Bản “Chương trình” lịch sử của Việt Minh ra đời đã 82 năm. Ngày
nay đọc lại, chúng ta không khỏi kinh ngạc về sự bao quát những nội dung rộng lớn
của một cuộc cách mạng giải phóng trong thời đại mới - thời đại của những người
nô lệ, bị áp bức vươn lên giành lấy quyền làm chủ thực sự. “Chương trình Việt
Minh” không chỉ là một kế hoạch hành động của Mặt trận nhân dân - dân tộc nhằm
đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập mà còn là một định hướng chính trị cho
việc xây dựng một nhà nước dân chủ trong tương lai: “Sau khi đánh đuổi đế quốc
phát xít Nhật, sẽ lập lên chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà, lấy cờ đỏ sao vàng nǎm cánh làm quốc cờ. Chính phủ của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hoà do Quốc dân đại hội cử lên…”

1. Lịch sử có những sự kiện ngẫu nhiên mà lại tất yếu đến kỳ lạ.
Đúng vào ngày 19/5/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập ra một tổ chức cách mạng
rộng rãi của nhân dân các dân tộc Việt Nam: “Hội Việt Nam độc lập đồng minh” (gọi
tắt là Việt Minh). Ước mơ, hoài bão lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là làm
cho nước ta được hoàn toàn độc lập, đồng bào ta được tự do, nhân dân các dân tộc
ai cũng có cơm ǎn, áo mặc, ai cũng được học hành.
Con đường đi tới ước mơ ấy là Cách mạng, là làm sao cho Nhân dân
biết “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Cách mạng là sự nghiệp của chính Nhân
dân. Nhưng Nhân dân, mỗi người, dù tài giỏi đến mấy thì cũng chỉ mong manh như
“cái bông” “ai vò cũng đứt, ai rung cũng rời”. Phải biết se bông thành sợi chỉ.
“Sợi chỉ” là một sự liên kết nhỏ, tuy đã là một “tổ chức”, song cũng còn yếu lắm.
“Mạnh gì sợi chỉ con con. Khôn thiêng biết có vuông tròn cho chǎng! Càng dài lại
càng mỏng manh. Thế gian ai sợ chi anh chỉ xoàng”.
Vì vậy, Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các tầng lớp Nhân
dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức. Việt Minh là một mặt trận
dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp và phát xít Nhật, bao gồm nhiều tổ chức
cách mạng của Nhân dân như Đảng Cộng sản Đông Dương và các hội cứu quốc (thanh
niên, phụ nữ, thiếu nhi, phụ lão, công nhân, nông dân, trí thức, quân nhân… cứu
quốc). Việt Minh ra đời đáp ứng yêu cầu tập hợp lực lượng toàn dân tộc nhằm cứu
đất nước, “giống nòi khỏi nước sôi, lửa nóng”. “Chương trình Việt Minh” ngắn gọn,
xúc tích gồm 6 phần: chính trị; kinh tế; vǎn hoá giáo dục; đối với các tầng lớp
nhân dân; xã hội và ngoại giao.
Nhà nước với định chế chính trị theo nguyên tắc dân chủ nhân dân:
phổ thông đầu phiếu; bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân; xây dựng
“cách mạng quân và vũ trang dân chúng”; tuyên bố quyền tự quyết dân tộc và chủ
trương các dân tộc được bình đẳng, thực hiện nam nữ bình quyền; thực hiện chính
sách đối ngoại hoà bình, sẵn sàng “ký những hiệp ước giao hảo và bình đẳng với
mọi nước về các phương diện”; “liên hiệp với tất cả nhân dân và dân tộc bị áp bức
trên thế giới”. Tinh thần cơ bản của Chương trình nói trên đã được ghi đầy đủ
trong bản Hiến pháp nǎm 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Chủ tịch Hồ
Chí Minh đứng đầu soạn thảo. “Chương trình Việt minh” gồm 10 điều ngắn gọn, nêu
rõ ràng chính sách đại đoàn kết dân tộc của Việt Minh đối với các giai cấp, các
tầng lớp nhân dân trong cả nước.
“Chương trình Việt Minh” thực sự là bản hiệu triệu quốc dân đồng
bào, ngọn cờ vẫy gọi, tập hợp các tầng lớp, các giai cấp xã hội; khơi dậy ở
trong mỗi người tinh thần yêu nước, làm sôi sục trong họ dòng máu Lạc Hồng, sẵn
sàng đem tài sức, tiền của, tính mạng ra phụng sự Tổ quốc: “Trên vì nước, dưới
vì nhà/ Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh”.
Sức mạnh của cả một dân tộc, một đất nước dưới ách ngoại xâm đã kết
lại thành một khối dưới ngọn cờ Hồ Chí Minh. Người không đưa ra những luận lý
trừu tượng, những hiệu triệu to tát mà nói lên tiếng nói của chính Nhân dân, những
tiếng nói “thấm vào lòng mong ước”. Lãnh tụ với Nhân dân không hề có khoảng
cách của người trên, kẻ dưới mà là những tiếng nói giản dị, chân thành: “Việc
nước là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”. Hồ Chí Minh chỉ
kêu gọi: “Kêu gọi dân ta trẻ lẫn già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng
nhau cứu nước Nam ta!”. Và khuyên nhủ: “Khuyên ai nên nhớ chữ đồng/ Đồng tình,
đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.
Tính hấp dẫn đến kỳ lạ trong những lời khuyên ấy là ở chủ nghĩa
yêu nước chân chính, ở tinh thần dân tộc, ở trái tim Hồ Chí Minh và những người
cộng sản Việt Nam đã cùng một nhịp đập với “tất cả đồng bào”. Và, đó chính là cội
nguồn của sức mạnh để làm nên chiến thắng.
2. Lịch sử xuyên qua những sự kiện tưởng như ngẫu nhiên để rồi đưa
tới những kết quả hợp logic.
Thời gian trôi đi và những thǎng trầm, những đổi thay của thế cuộc
đầy giông bão đã để lại những cái mốc như là kết quả tất yếu của sự phát triển
biện chứng giữa một vĩ nhân, một người anh hùng và nhà vǎn hoá kiệt xuất với một
tổ chức, một dân tộc vĩ đại. Cả hai đều nhờ có nhau, nương tựa vào nhau và cùng
nhau tạo dựng khuôn mẫu, dung mạo của lịch sử đất nước ở thời đại bão táp cách
mạng sôi sục khắp toàn cầu.
Cách mạng là ngày hội của quần chúng. Cả lãnh tụ, cả đồng chí, đồng
bào, cả già trẻ, gái trai, giàu, nghèo đều cùng một Hội. “Hỡi đồng bào yêu quí!
Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một
phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức
góp sức, người có tài nǎng góp tài nǎng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi
cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do, độc lập dẫu phải hi sinh tính mệnh
cũng không nề.
Hỡi các chiến sĩ cách mạng! Giờ giải phóng đã đến, hãy phất cao cờ
độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc
đương vang dội bên các đồng chí. Máu nóng của các bậc anh hùng đang sục sôi
trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đang chờ sự lãnh đạo của các
đồng chí! Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên! Đoàn kết thống nhất
đánh đuổi Pháp, Nhật”. Đảng lãnh đạo dẫn đường, toàn dân chung một Hội giải
phóng non sông.
Cách mạng Tháng Tám 19/8/1945, ngọn cờ Tổ quốc sáng đỏ dưới bầu trời
nước Việt Nam. Ngày 02/9/1945, tại Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với
quốc dân đồng bào phát lời “Tuyên ngôn Độc lập” mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên độc lập, tự do và Chủ nghĩa xã hội của Tổ quốc Việt Nam.
Từ đấy, những bước đi lên, trải qua biết mấy thǎng trầm, đã không
ít lần vận nước nguy nan nhưng với một Đảng cách mạng chân chính dẫn đường, một
Mặt trận Dân tộc thống nhất đoàn kết ngày một dâng cao và nhân lên gấp bội và với
một nhà nước của dân, do dân, vì dân, đất nước ta, Nhân dân ta đã kiên nhẫn,
ngoan cường vượt lên phía trước. Những chiến công lừng lẫy non sông, chấn động địa
cầu và cả những non kém, vấp váp, sai lầm… tất cả, đều như “lửa thử vàng, gian
nan thử sức”, tôi luyện bản lĩnh cách mạng của Đảng và Nhân dân ta.
“Nếu nước độc lập mà dân chưa được hưởng tự do và hạnh phúc thì độc
lập cũng chẳng có nghĩa gì”. Vì vậy “chúng ta cần phải biết rằng những thắng lợi
mà chúng ta đã đạt được mới chỉ là bước đầu trên đường đi muôn dặm”. Cách mạng
còn phải tiếp tục tiến lên nữa, tiến lên không ngừng. Nhưng để tiến lên thì “việc
cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn
viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ”, trách nhiệm đầu tiên của Đảng Cộng
sản “là công việc đối với con người”, là chǎm lo “bồi dưỡng thế hệ cách mạng
cho đời sau”, là “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và
vǎn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân”.
Cội nguồn sức mạnh để làm tốt các nhiệm vụ nói trên là ở sự đoàn kết.
“Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng
chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng
như giữ gìn con ngươi của mắt mình” (Di chúc).
“Phải giữ gìn đoàn kết…!”. Đó là di huấn vĩ đại của Hồ Chí Minh.
Với tinh thần ấy, dân tộc Việt Nam với niềm tin yêu: “Mở lòng ra
đón tương lai huy hoàng” nên đã đấu tranh anh dũng ngoan cường và đã làm nên những
chiến công hiển hách để chưa bao giờ đất nước ta, dân tộc ta có một cơ đồ sự
nghiệp như ngày nay.
Tạp chí Nhân quyền Việt Nam tháng 8/2023